“ Hãy tự mình là thi sĩ để hát ca và tự mình là nhạc sĩ để ngâm nga. Bạn sẽ thấy như được chắp cánh để bay vào cõi thần tiên đầy mộng ước”

7 tháng 10, 2011

Sách nhạc

Một số sách âm nhạc do nhạc sĩ Đào Ngọc Dung viết, biên tập và phổ biến tôi đã đăng lên từ lâu rồi. Hôm nay do thay đổi Blog nên tôi chuyển tất cả vào một mục lục ở bài này.



Khi nghe một tác phẩm âm nhạc, để hiểu và cảm nhận thấu đáo nội dung và ý của tác giả, ngoài phần rung cảm của tâm hồn, ta còn cần có một số vốn kiến thức phân tích tác phẩm âm nhạc. Từ đó người sáng tác có thể nắm bắt được quy luật mà vận dụng sáng tạo, người biểu diễn có thể xử lý tốt để có thể truyền đạt được ý đồ của nội dung  tác phẩm, người nghiên cứu có thể mổ xẻ tác phẩm, đúc kết được những lý luận âm nhạc. 

Phân tích tác phẩm là một môn Lí thuyết âm nhạc. Nó giúp ta hiểu được sự cấu tạo của tác phẩm âm nhạc, từ cấu tạo nên hình thức đến xây dựng một tác phẩm âm nhạc. Bất cứ loại hình nghệ thuật nào thì hình thức và nội dung đều có sự gắn bó với nhau. Nhưng, đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc thì hình thức và nội dung gắn bó rất hữu cơ với nhau, khó tác bạch.

Cho nên ta có thể nói: “Học phân tích tác phẩm âm nhạc là học hình thức âm nhạc". Mà học hình thức âm nhạc của một tác phẩm nào là ta đã phân tích ý nghĩa và nội dung âm nhạc của tác phẩm đó rồi. Dĩ nhiên ta hiểu nội dung ở đây là nội dung âm nhạc của tác phẩm,chứ không bó hẹp trong nội dung ý nghĩa của văn từ trong lời ca của tác phẩm, cũng không chỉ riêng về mặt ý nghĩa triết học mà tác phẩm đạt tới. Không chỉ chỉ riêng về mặt tình cảm tác động với tâm sinh lý người nghe, mà nội dung âm nhạc là sự tổng hợp về sự nhận thức của con người qua âm thanh, nó trừu tượng, lại rất cụ thể.  Xem tiếp.... 

Thuyền và Biển



Những bài thơ tình hay, bản thân nó đã đi vào lòng người. Nhưng nếu những bài thơ đó được chắp thêm đội cánh của âm nhạc thì nó sẽ đưa tâm hồn ta bay bổng vào cõi thần tiên đầy mộng ước.
Người thi sĩ đã gửi gắm những tâm tư tình cảm gì qua bài thơ và người nhạc sĩ đã đồng cảm với thi sĩ ở những điểm nào để sáng tạo nên những tình khúc bất tử ấy?
Xin các bạn hãy đọc to lên và hát to lên và hãy hát to lên. Hãy tự mình là thi sĩ để hát ca và tự mình là nhạc sĩ để ngâm nga, các bạn sẽ thấy mình được chắp cánh để bay vào cõi thần tiên đầy mộng ước.
Thơ và nhạc như thuyền và biển.
"Chỉ có thuyền mới hiểu
biển mênh mông dường nào?"
"Chỉ có biển mới biết
thuyền đi đâu về đâu?".

====================================================
Bạn có thể tìm mua sách của Nhạc sĩ Đào Ngọc Dung viết, sưu tầm và biên soạn ở các nhà sách. Bạn có thể liên hệ trực tiếp với nhạc sĩ để đặt mua (Giảm giá, miễn phí vận chuyển nếu đặt mua số lượng lớn)
ĐT: 04.35520150 
============================================================


Các tác phẩm âm nhạc - kể cả khí nhạc và thanh nhạc - đều có chung một lý thuyết về sự cấu tạo và hình thành. Nhưng những ca khúc, nhất là ca khúc Việt Nam, thường được các tác giả phóng tay hơn khi sáng tác, không theo niêm luật chặt chẽ như các tác phẩm khí nhạc.

Muốn phân tích tốt một ca khúc ta cần phải có một bản nhạc thật chính xác, phải nghe nhiều, đắm mình trong tác phẩm chúng ta mới tìm thấy sự đồng cảm của mình với tác giả. Ta mới hiểu được tác giả muốn gửi gắm tâm sự gì, xúc cảm gì thông qua tác phẩm của mình.
Vì vậy khi phân tích ca khúc chúng ta thường tỏ ra còn lúng túng. Nhất là đối với các giáo viên âm nhạc đang giảng dạy tại các trường phổ thông, ở đây việc học tập và hoạt động âm nhạc ngoại khóa còn đưa vào ca khúc là chính.
Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách đó, nhạc sĩ Đào Ngọc Dung đã biên soạn cuốn Phân tích ca khúc. Xem tiếp...



Tác phẩm âm nhac có khi chỉ để giải trí, nghe một vài lần rồi quên ngay. Nhưng cũng có những tác phẩm bất hủ có sức sống lâu bền. Đó là tải sản vô giá của nhân loại.
Alibaba (trong chuyện cổ Ả Rập) vô tình phát hiện được kho của cải châu báu. Nó được tích lũy dần dàn và lưu truyền từ đời này đến đời khác. Nó lại do 40 tên cướp đi cướp bóc ở nhiều nơi và mất nhiều năm mới gom góp lại được.
Alibaba trở nên một người cực kỳ giàu sang vì kho báu có giá trị quá lớn. Nhưng không thể ví nó với kho báu tác phẩm nghệ thuật được. Vì tiền của phải tiêu, mà tiêu thì sẽ hết, còn kho báu nghệ thuật thì ko bao giờ hết mà chỉ ngày càng được phổ biến lưu truyền và càng này càng tăng thêm giá trị. Xem tiếp...



Cuốn sách này sẽ giới thiệu đến các bạn đầy đủ các bài hát quy định trong chương trình Âm nhạc các trường phổ thông cơ sở (cả chương trình mới và chương trình cũ). Ngoài ra còn có các bài truyền thống, các bài dân ca 3 miền, các bài hát nước ngoài và các bài hát mới. Đặc biệt còn có những bài hát của các tác giả cổ điển nổi tiếng thế giới (như Bê-tô-ven, TChai-cốp-xki, Mô-da, Sô-panh v.v...) có đặt lời Việt để tiện sử dụng minh họa khi lên lớp giới thiệu các tác giả đó.


Đây là những bài hát rất hay rất dễ hát, rất phổ biến và rất có giá trị thẩm mỹ dành cho tất cả các bạn học sinh phổ thông cơ sở. 
vinabook.com/Nhạc sĩ Đào Ngọc Dung
====================================================
Bạn có thể tìm mua sách của Nhạc sĩ Đào Ngọc Dung viết, sưu tầm và biên soạn ở các nhà sách. Bạn có thể liên hệ trực tiếp với nhạc sĩ để đặt mua (Giảm giá, miễn phí vận chuyển nếu đặt mua số lượng lớn)
Email: nsdaongocdung@gmail.com 
ĐT: 04.35520150 
Xem Mục lục sách Âm Nhạc và Hội Họa   -   DOWNLOAD
============================================================

19 tháng 6, 2011

Lạm bàn về lời thơ và lời ca trong các ca khúc phổ thơ


Những bài thơ hay, bản thân nó đã đi vào lòng người. Nhưng nếu những bài thơ đó được chắp thêm đôi cánh của âm nhạc thì nó sẽ đưa tâm hồn ta bay bổng vào cõi thần tiên đầy mộng ước. 

Các nhạc sĩ khi phổ nhạc từ các bài thơ thường sử dụng 3 thủ pháp:

1. Nguyên thơ: Phổ nhạc vẫn giữ nguyên tiết tấu, cấu trúc và vần điệu của câu thơ, đoạn thơ (Chị Tôi – Thơ Đoàn thị Tạo – Trọng Đài; Tình em – Thơ Ngọc Sơn – Huy Du...)

2.  Trích thơ: Phổ nhạc chỉ trích từng câu, từng đoạn chứ không lấy nguyên cả bài thơ (Thuyền và biển – Xuân Quỳnh – Phan huỳnh Điều – Hữu Xuân; Hương Thầm – Phan thị thanh Nhàn – Vũ Hoàng...)

3.  Phỏng thơ: Tác giả khi phổ nhạc không giữ nguyên từng câu, từng đoạn của bài thơ mà chỉ lấy những ý chính, những hình ảnh chính của bài thơ (Mùa xuân bên cửa sổ - Song Hảo – Xuân Hồng; Hà nội phố - Phan Vũ – Phú Quang...)

Bài sẽ được đăng tải ở bài tiếp tới. Bạn có thể mua cuốn "Thuyền và Biển", gồm những ca khúc được phổ nhạc từ những bài thơ tình nổi tiếng. Sách được bán ở các nhà sách. Bạn cũng có thể liên hệ với tác giả Đào Ngọc Dung để đặt mua. Xem thêm tại đây

Hãy cùng nghe bài Thuyền và Biển.  do nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sáng tác phổ thơ Xuân Quỳnh, ca sĩ Bảo Yến trình bày.


Còn bài này của nhạc sĩ Hữu Xuân cũng phổ thơ từ bài Thuyền và Biển của nhà thơ Xuân Quỳnh, ca sĩ Diễm Liên trình bày


Thuyền và Biển (thơ Xuân Quỳnh)

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển

“Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa… vẫn xa

Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)

Ảnh minh họa
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió”
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố.

Nhạc sĩ qua đôi mắt học trò

Là học sinh của nhạc sĩ, cựu sinh viên Trịnh thị Bảo Huệ K25 Khoa Âm nhạc trường CĐSP Nhạc họa TW đã có bài luận văn phân tích ca khúc Địu con đi nhà trẻ. Bài được đăng trong cuốn Phân tích ca khúc (NXB âm nhạc -2006).

Ảnh minh họa
Trong sự nghiệp sáng tác, mỗi nghệ sĩ thường khẳng định mình qua tác phẩm đầu tiên được công chúng yêu thích và hưởng ứng nồng nhiệt. Đối với công chúng yêu thích âm nhạc, có một thời (vào những thập kỷ 70 thế kỷ XX) đã từng say sưa hát:


“Con thương ơi, con quý ơi!
Nhà trẻ đó con nằm con chơi…

Một khúc hát ru xúc động lòng người được phát triển trên chất liệu dân ca Thái. Câu hát với hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ hoà trong nét dân ca trữ tình mềm mại đã chiếm lĩnh tâm hồn người nghe. Đấy là bài hát “Địu con đi nhà trẻ” của nhạc sĩ –  nhà giáo Đào Ngọc Dung.

Trong đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp hiện nay, ông là người có số lượng tác phẩm không nhiều, bởi vì ông đã và đang đóng góp hết sức mình cho lĩnh vực công tác chuyên môn của mình là giảng dạy âm nhạc. Tuy nhiên trong tâm trí nhiều người vẫn còn âm vang mãi giai điệu “Địu con đi nhà trẻ”.

Nhạc sĩ Đào Ngọc Dung tên khai sinh là Phạm Ngọc Diệp sinh ngày 1 – 10 – 1933 tại tả ngạn sông Hồng (xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình). Nhưng quê chính của ông lại ở hữu ngạn (xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Cụ thân sinh ra ông chơi nhạc nghiệp dư, trong nhà có cả nhị, hồ, sáo, tiêu, đàn bầu, đàn nguyệt… Cụ thường cùng các bạn hòa tấu các bản nhạc cổ truyền : hành vân, lưu thuỷ, bình bán, kim tiền… Huyện Đông Hưng, Thái Bình có làng chèo Khuốc, làng rối nước Nguyên Xá và nhiều phường nhạc bát âm nổi tiếng thường biểu diễn trong các dịp đình đám, hội hè. Từ nhỏ, ông đã được tắm mình trong dòng âm nhạc dân tộc, truyền thống âm nhạc của gia đình, quê hương đã giúp ông sớm yêu mến âm nhạc dân tộc và góp phần đưa ông vào con đường âm nhạc chuyên nghiệp sau này.Năm 1949, quê ông bị giặc Pháp tiến công, ông lên đường nhập ngũ. Vào bộ đội, ông chiến đấu ngay trong vùng địch hậu. Ông hăng say tham gia công tác văn nghệ ở đơn vị. Vừa là nhạc công biểu diễn, vừa sáng tác âm nhạc. Những ca khúc ông viết trong thời kỳ này nóng hổi hơi thở của cuộc sống chiến đấu vẫn còn được các cựu chiến binh nhớ đến ngày nay :

Chống càn – 1949":

“Quả đất tròn – 1950”:


“Tát nước đêm trăng – 1950”:

((Bài này đã được Đoàn Văn Công Khu III (QK Tả ngạn) đem đi dự Hội diễn Văn Nghệ toàn quốc tại chiến khu Việt Bắc năm 1952 và được tặng huy chương vàng).

Năm 1958 ông được điều lên công tác tại vùng núi Tây Bắc (đoàn Văn công Quân khu Tây Bắc). Thời gian này ông đã nhiều lần đi thực tế sáng tác tại các các vùng đồng bào dân tộc Thái – Mèo và các đơn vị “tình nguyện quân” ở nước bạn Lào. Các tác phẩm dù ở thể loại nào ông đều viết với một phong cách thống nhất: phát triển từ âm điệu cổ truyền dân gian của các dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc, vừa trữ tình, sâu lắng lại mang tính vũ khúc rộn ràng:

“Trực chiến – 1965” :


“Bài ca hưn mạy – 1967” :



“Mặc người dèm pha – 1968” :



Bài này đã được Hội Phụ nữ trao giải thưởng năm 1968.

Năm 1977 ông chuyển ngành về giảng dạy tại trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc-Hoạ Trung ương. Mặc dù phải toàn tâm, toàn ý vào việc đào tạo thế hệ giáo viên âm nhạc cho nước nhà, thỉnh thoảng ông cũng sáng tác. Những ca khúc thời gian này vẫn đóng góp cho thế giới âm thanh những sắc màu tươi trẻ, những sáng tạo nghệ thuật đích thực:

"Màu sắc và âm thanh" - 1980


“Thày giáo muôn đời sau – 1982” :



(Bài hát này đã được lấy làm tiêu đề cho chương trình biểu diễn âm nhạc chào mừng 50 năm ngành Sư phạm - Đài THVN).

Mấy chục năm công tác ở miền núi đã tạo cho ông hoà nhập với đời sống sản xuất, tâm tư, tình cảm của quân và dân Tây Bắc. Âm nhạc dân tộc dường như luôn chảy trong mạch viết của ông. Một sự truyền cảm kỳ lạ từ sức sống ở những ca khúc của ông thời kỳ này.

Khi được nghe bài hát “Địu con đi nhà trẻ”, những âm điệu của dân tộc Thái, giai điệu và lời ca lắng đọng đã cuốn lấy tôi. Tôi chợt hiểu rằng “con người có thể già đi theo thời gian, còn nghệ thuật thì vĩnh viễn xanh tươi”. Cho đến hôm nay bài hát vẫn có sức sống lâu bền. Có lẽ sự gắn bó, hoà nhập, hoá thân của chính tác giả vào mảnh đất Tây Bắc và tình người Tây Bắc đã giúp ông viết nên bài hát này. Nhạc sỹ Đào Ngọc Dung từng tâm sự: “Đã nhiều năm tôi công tác ở đoàn Văn công Quân khu Tây Bắc có nhiều dịp đi thâm nhập thực tế xuống cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc thiểu số để sáng tác tiết mục cho Đoàn biểu diễn. Tôi đã ghi được nhiều nét nhạc đặc trưng của các làn điệu dân ca địa phương, có được nhiều cảm xúc chân thực và đã biến chúng thành những bài hát như Trực chiến, Mặc người dèm pha, Địu con đi nhà trẻ...”. Khi được nghe qua Đài TNVN và sau đó đã hát rất nhiều lần, tôi cảm nhận được niềm vui, khát vọng và tình cảm của người mẹ miền núi ở trong bài hát. Chỉ qua mấy nhịp đầu thôi, tôi đã cảm nhận được không khí của tác phẩm. Nó gợi cho tôi liên tưởng và hình dung ra những bước chân của người mẹ đang địu con trên lưng. Những bước chân có sự khấp khểnh của rừng núi cho ta liên tưởng đến cuộc sống sẽ còn nhiều khó khăn vất vả phải vượt qua, nhưng lại là những bước chân vui tươi, nhẹ nhàng. Bởi lẽ dù còn vất vả nhưng đã có “nhà trẻ đó con nằm con chơi”. Mẹ còn có con là niềm tin, hơn nữa mẹ đang được đóng góp cho đất nước dù rất nhỏ bé, dù chỉ là: “… Gắng đêm ngày làm việc bằng hai. Cho thêm lúa ra chiến trường. Bố yên lòng chiến đấu đường dài...”. Mở đầu bài hát là lời ru, lời tâm sự của người mẹ, người mẹ trẻ như đang nói chuyện với đứa con thơ. Tình thương của mẹ, lắng sâu hơn nữa là niềm hạnh phúc trước sự đổi thay, no ấm của bản làng. Trong lời ru, lời tâm tình của mẹ có màu vàng của lúa, màu xanh của cây, tiếng reo của suối và lộng gió cuộc đời. Tất cả hoà trong giai điệu vừa sâu lắng, vừa có tính vũ khúc mang đậm nét dân ca của dân tộc Thái Tây Bắc.


Sâu lắng nhưng vẫn rung lên và rộn ràng từng thanh điệu. Người mẹ Tây Bắc như bao người mẹ Việt Nam khác trung hậu, đảm đang. Mẹ chăm lo cho con, cho dân làng. Mẹ lao động, sản xuất, xây dựng quê hương, giúp đỡ tiền tuyến, giữ vững hậu phương để yên lòng người ra đi chiến đấu.

Nếu như ở ca từ, tác giả cho ta thấy được phần nào tâm tư tình cảm, cái hồn của bài hát, thì khi ta nghe giai điệu, ta sẽ hiểu thấu đáo hơn những xúc cảm của tác giả trong đứa con tinh thần của mình.Bài hát được viết theo điệu thức ngũ cung (Son Cung) mang đậm tính dân tộc; nhịp 2/4 làm cho bài hát mang nhịp đi, có tính chất nhảy múa; hình thức hai đoạn không tái hiện. Đoạn a là một đoạn nhạc kép:

Đoạn a : “Con thương ơi! Con qúy ơi!Nhà trẻ đó con nằm con chơi (câu 1- kết ở âm la)Con thương ơi! Con quý ơi!Mẹ địu con đi nhà gửi trẻ” (câu 2 - kết ở âm rề).

Đoạn a’ : “Nhà trẻ đấy, trên cao nàyBốn phương trời thổi gió hương bay (câu 1- kết âm la)"Trông dòng suối, trông bản làngNắng tươi vàng trải nương lúa vàng" (câu 2 - kết âm rê)Con thương ơi! con quý ơi (tiết nhạc bổ sung để kết đoạn, kết trọn về chủ âm - nốt son).

Âm hình chủ đạo của đoạn này:


Chỉ qua một âm hình chủ đạo đó đã gây một ấn tượng rất mạnh cho người nghe làm ta liên tưởng tới tiếng đàn “tính tẩu” (một loại nhạc cụ làm bằng chiếc gáo dừa có cần rất dài, có 2 dây tơ, gẩy bằng những ngón tay, các chàng trai Thái thường dùng để tỏ tình, đêm đêm dưới gầm sàn, chàng trai vừa hát vừa đánh đàn, đôi lúc lấy cần đàn thúc lên sàn nhà - nơi cô gái nằm - để đánh thức cô gái dậy đi chơi với mình). Âm hình đó lại được tác giả dùng thủ pháp “nhắc lại có thay đổi” để tạo nên các tiết nhạc, câu nhạc. Nhất là những âm la - âm thứ hai của điệu thức - cứ xuất hiện liên tục (kết thúc âm hình, kết thúc tiết nhạc, kết thúc câu nhạc). Kết hợp với âm rê (âm bậc V của điệu thức) kết thúc đoạn nhạc. Đến khi đoạn nhạc được nhắc lại (tác giả có thay đổi bằng cách nâng âm hình chủ đạo lên một quãng V) thì hai âm đó (la và rê) vẫn được tác giả giữ lại làm âm kết cho các câu nhạc. Chỉ đến khi có thêm một tiết nhạc bổ sung “Con thương ơi! Con quý ơi!” giọng điệu mới được khẳng định (Son Cung). Tác giả lại khéo dùng những yếu tố kỹ thuật đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam như:

 - Giai điệu mang hình lượn sóng, đi liền bậc gồm có quãng hai trưởng và quãng ba thứ (không sử dụng quãng hai thứ). 
    
 - Những bước nhẩy quãng bốn (la mi, rề son...), và quãng năm (mi si...).   
 
- Những trường độ trung bình (đen, trắng, móc đơn, chấm dôi...).
      
 - Những nốt hoa mỹ, những luyến láy.Vì vậy giai điệu vừa mềm mại, dịu dàng, sâu lắng (diễn tả sự trìu mến của người mẹ đối với đứa con thương yêu của mình) lại vừa khoẻ khoắn, tươi trẻ, nhịp nhàng (nói lên lòng tin yêu, tha thiết của người mẹ đối với bản làng đổi mới, đối với người chồng đang chiến đấu nơi xa).Đoạn b là một đoạn nhạc đơn có hai câu:

Câu 1Của con đấy con ơi, cả đồng lúa, cả nương đồi.Cả bốn năm phương trời, cả ngày mai cả cuộc đời. 

Câu 2Của con đấy con ơi, cả trời cao với từng mây trắng.Cả núi non, cả rừng, cả dòng suối hát reo mừngCả núi rừng dòng suối là của con đấy con ơi. Âm hình của đoạn này dài cả tiết nhạc, gồm những nốt móc đơn đi liền nhau, nhưng hai móc đầu nhịp được luyến với nhau, hai móc sau tách rời và nẩy, nhịp độ hơi nhanh hơn so với đoạn a, ở âm khu cao nhất của bài hát.

Chỉ riêng âm hình này đã nói lên nét độc đáo của bài hát: Một bài hát ru mà lại có tính vũ khúc, nhẩy nhót. Rõ ràng đây là hình ảnh một bà mẹ miền núi đang địu con trên lưng vừa nhún nhẩy nựng con, ru con vừa làm tất cả mọi công việc kể cả việc đồng áng, kể cả việc bắn máy bay giặc. Tác giả cũng dùng thủ pháp “giữ nguyên hình tiết tấu chỉ thay đổi cao độ” để phát triển tiết nhạc ấy thành một đoạn nhạc có 2 câu rất cân phương (Thực ra đoạn nhạc đã được kết - chủ âm - ở tiết thứ hai của câu 2 “... cả dòng suối hát reo mừng.”, tiết nhạc mở rộng cuối cùng chỉ là kết vĩ của cả đoạn đồng thời là của cả bài hát “cả núi rừng dòng suối là của con đấy con ơi”).

Tiết 1 của câu thứ hai được đưa lên cao trào (nốt nhạc cao nhất), đây là cao trào của cả bài hát “Của con đấy con ơi cả trời cao với từng mây trắng”. Cao trào dừng ở nốt mi, một âm thuộc chức năng “hạ át” (bậc VI) không ổn định, không căng cứng như những âm thuộc chức năng “át” (bậc V) vừa đủ để nhấn mạnh gây cảm xúc, gây sự hồi hộp, chờ đợi để đến tiết sau giải quyết cao trào từ âm cao nhất trở về chủ âm “cả núi non, cả rừng, cả dòng suối hát reo mừng”, tiết nhạc kết vĩ tiếp theo cũng là để giải quyết cho trọn vẹn cái cao trào toàn bài ấy. Nhất là hai nốt “mắt ngỗng - ngân dài” được đặt ở hai vị trí rất đắt: nốt mi - cao trào, và nốt si - âm III để củng cố chủ âm - càng làm cho giai điệu có sự ngân vang, lắng đọng tha thiết. Nhìn chung ở bài hát tác giả chỉ sử dụng một thủ pháp hết sức đặc trưng của ngôn từ Việt Nam để phát triển giai điệu. Đó là thủ pháp “Giữ nguyên hình tiết tấu chỉ thay đổi cao độ”. Ngoài ra tác giả có sử dụng thêm các thủ pháp khác: trang sức giai điệu, luyến nốt, các nốt hoa mỹ để tô điểm thêm cho giai điệu làm cho lời ca chau chuốt, mềm mại và tình cảm hơn. Chính điều này khiến bài hát có sức sống lâu bền trong lòng quần chúng. Một phần ở sức thuyết phục của giai điệu rất mộc mạc, bình dị dễ hát, dễ nhớ, một phần là ở những hình ảnh rất đời thường, những suy nghĩ trăn trở thường nhật của quần chúng đã được tác giả biến thành nghệ thuật của âm nhạc. Bài hát lại ra đời đúng vào thời điểm rất nóng bỏng tính thời sự, ghi lại được cảm xúc, suy nghĩ của quần chúng đánh dấu một thời khắc oanh liệt trong giai đoạn lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Âm nhạc của ông là một sự giao cảm hoà quyện giữa tác phẩm và công chúng. Ông đã đưa cảm xúc của mình hoà nhập trong mọi người. Cùng với các tác phẩm khác trong cùng giai đoạn : “Trực chiến”, “Mặc người dèm pha”, “Bài ca Hưn mạy”, “Địu con đi nhà trẻ” được giới âm nhạc chuyên nghiệp ghi nhận là một thành tích, đóng góp của ông vào thư mục các tác phẩm viết về đề tài phụ nữ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bài hát ra đời trong những năm 60 của thế kỷ trước, trong phong trào “ba đảm đang”. Nó đã có tác dụng rất tích cực trong phong trào động viên phụ nữ gánh vác công việc thay chồng, để chồng yên tâm chiến đấu ngoài chiến trường. Nhưng sau bao nhiêu năm, đến nay hòa bình đã được lập lại, đất nước thống nhất không còn chiến tranh, phụ nữ không còn phải làm những công việc nặng nhọc thay chồng nữa. Nhưng quần chúng vẫn hát, các bà mẹ vẫn hát, bài hát vẫn có mặt ở các chương trình ca nhạc và các băng nhạc phổ biến.“Của con đấy con ơi! Cả đồng lúa, cả nương đồi. Cả bốn năm phương trời. Cả ngày mai, cả cuộc đời”...Đúng! Tất cả những gì có được cuả bố mẹ đều dành cho con cái. Cả Tổ quốc, xã hội cũng dành những gì đẹp đẽ nhất cho tuổi thơ.“Trẻ em là tương lai của đất nước”. Bài hát đã đáp ứng được những gì quần chúng, xã hội mong chờ, đòi hỏi, đã có tác dụng vượt qua thời gian, không gian và hoàn cảnh khi nó ra đời. Vì vậy chắc chắn “Địu con đi nhà trẻ” sẽ còn sống mãi trong lòng quần chúng nhân dân.


Trịnh thị Bảo Huệ K25 Khoa Âm nhạc

14 tháng 6, 2011

Đôi điều của tác giả về ca khúc Địu con đi nhà trẻ


Tháng 8 năm 1965 tôi đi thâm nhập thực tế sáng tác tiết mục biểu diến cho đoàn Văn công Quân khu Tây Bắc. Tôi xuống ở xã Đông Khùa – một xã đồng bào Thái giáp ranh giữa huyện Mộc Châu và Yên Châu tỉnh Sơn La. Tôi ở đấy 2 tháng cùng ăn cùng ở với đồng bào. Cùng đi săn rừng bắn con nai, con khỉ. Cùng đi lưới bắt con cá ở suối “Sập”. Mối lần đi săn, đi lưới đều là một ngày hội. Nhân dân Thái ở đây rất tự hào về hợp tác xã của mình. Đây là một hơp tác xã tiên tiến nhiều năm của tỉnh Sơn La. Đặc biệt có một nhà trẻ rất văn minh tiến bộ. Tuy nhà trẻ chỉ là một nhà sàn tre gỗ nứa lá thôi, nhưng mỗi cháu trong nhà trẻ đều có một giường, một tủ, một phích nước nóng, một bộ đồ ăn riêng. Lúc bầy giờ so với một bản làng của đồng bào dân tộc thiểu số, không những của tỉnh Sơn La mà của toàn miền Bắc, thì chắc nhà trẻ ở đây, của hợp tác xã Đông Khùa này là độc nhất vô nhị.

Ảnh minh họa
Con gái đầu của tôi lúc đó được 2 tuổi. Xa con, tôi nhớ lắm, nhớ những bước chân chập chững của con, nhớ tiếng cười, những câu nói bi bô của cháu. Đêm đêm tôi thường bất chợt tỉnh giấc và chẳng thể ngủ lại được ngay vì nhớ vợ con. Tôi thường sang nhà trẻ chuyện trò với cô trông trẻ và chơi với các cháu. Nhiệm vụ của tôi lúc đó là đi sáng tác viết về lực lượng vũ trang. Nhưng sau suốt hai tháng trời vẫn không viết được một nốt nhạc nào. Bất thình lình một đêm tôi thức giấc. Cảm xúc bất chợt ùa đến, tôi bật dậy vừa nằm vừa  soi đèn pin (Bản làng lúc đó làm gì đã có điện, mà cũng chẳng dám thắp đèn dầu vì sợ ảnh hưởng đến giấc ngủ của chủ nhà), viết một mạch đến sáng thì xong bài “Địu con đi nhà trẻ”.

Lúc đó những cảm xúc ùa đến thật dồn dập.

- Cảm xúc về một nhà trẻ văn minh tiến bộ.

- Cảm xúc về những người phụ nữ đảm đang thay chồng gánh vác hết công việc nặng nhọc, hàng ngày vẫn địu con trên lưng vừa đi vừa hát.

- Cảm xúc về cuộc sống của đồng bào các đân tộc thiểu số đã vững bước theo Đảng đổi đời.

- Và trên hết là cảm xúc khi nghĩ về vợ tôi, cũng địu con trên lưng một mình làm tất cả mọi việc: Sơ tán vào hang tránh máy báy Mỹ, giặt giũ, nấu cơm... mà chồng thì đi biền biệt suốt năm tháng.

Thế là đợt đi thực tế đó tôi đã cho ra đời một ca khúc "lạc đề", ca khúc Địu con đi nhà trẻ. Năm 1966 bài hát đã trở thành một tiết mục đơn ca chính của đoàn Văn Công Quân khu Tây Bắc.
Mãi đến năm 1968, tôi được cử đi học Đại học. Trong khi nằm chờ xe để lên Hà Bắc vào Nhạc Viện (Nhạc Viện sơ tán tại huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), lúc rỗi rãi tôi mới lấy giấy bút ra chép lại bài hát gửi cho Đài Phát thanh Tiếng Nói Việt Nam. Qua làn sóng của Đài, bài hát đã được phổ biến lan truyền khắp nơi. Sau đó Đoàn Ca nhạc TW đã đem đi biểu diễn tại Paris và các nước khác, rồi hãng đĩa hát Liên Xô cũng in đĩa. Từ đó bài hát lại được phổ biến rộng rãi đi khắp nơi.

MỘT KỶ NIỆM NHỎ VỀ BÀI HÁT:

Kỷ niệm về bài hát thì nhiều, nhưng có một kỷ niệm mà cho đến tận hôm nay tôi vẫn còn vương vẫn trong lòng:

Đó là vào năm 1972, tôi theo đoàn quân tình nguyện Việt Nam sang đánh địch tại Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Lào. Một con đường độc đạo đưa quân tình nguyện sang Lào là đường số 7 từ Nghệ An qua Đô Lương, Con Cuông sang Cánh Đồng Chum. Vì vậy máy bay Mỹ ngày đêm bắn phá phong tỏa con đường. Tôi theo một đoàn xe vận tải đi trên con đường đó, dĩ nhiên phải vượt qua bao nhiêu bom đạn nguy hiểm. Đến gần sáng thì tạt vào một cánh rừng ven đường ẩn náu để đêm mai đi tiếp. Tình cờ tại đây tôi gặp người đại đội trưởng phụ trách cảnh giới phá bom nổ chậm tuyến đường. Khi biết tôi là tác giả bài “Địu con đi nhà trẻ”, anh vội vàng kéo tôi đi, vừa đi vừa nói : "Các chị em ở đây rất thích bài hát của anh,  họ đang ở trên chốt. Họ cho rằng tác giả là một phụ nữ. Bây giờ nếu gặp được tác giả thì họ phấn khởi lắm. Tôi sẽ đưa anh lên chốt”.

Lại leo núi, mệt đứt hơi. Chừng gần đến nơi, anh kéo tôi ngồi xuống nghỉ một lát. Bỗng nghe thấy tiếng hát từ trên chốt vọng xuống. Tiếng hát rất trẻ của chừng năm, sáu cô gái.

“...Của con đấy con ơi cả đồng lúa, cả nương đồi.
Cả bốn năm phương trời, cả ngày mai, cả cuộc đời.
Của con đấy con ơi cả trời cao với tầng mây trắng...”

Trong không khí rừng núi, đêm tối, bom đạn, hiểm nguy, tiếng hát làm xáo động tâm tư con người. Tôi và anh đại đội trưởng kia lặng người đi. Tôi muốn chạy lên ngay nhưng anh kéo tôi ngồi xuống. “Để họ hát hết bài đã anh ạ”.

Nhưng bài hát đã được hát hết đâu. Một đoàn máy bay giặc kéo tới thả bom tọa độ. Chớp lóe nhằng nhịt, lửa khói mù trời, đất đá như muốn vùi lấp chúng tôi. Anh đại đội trưởng vội vàng kéo tôi tụt xuống thoát khỏi vòng nguy hiểm, rồi anh lại chạy biến đi lo giải quyết hậu quả.

Cho đến hôm nay tôi vẫn không biết tên anh đại đội trưởng kia? cũng không biết các cô gái đã hát bài hát của tôi đêm đó tên là ai? Bao nhiêu tuổi? Quê ở đâu?  Có qua khỏi được trận bom tọa độ đó không?

Hôm nay, cảm xúc lại ùa về. Tôi rất muốn được gặp các cô gái đó một lần để hỏi: “Các cô có còn hát bài Địu con đi nhà trẻ nữa không? còn muốn gặp tác giả bài hát nữa không?" 

Các bài khác